các phương thức hô hấp nhân tạo dùng trong máy thở-Nguyễn Công Trình



các phương thức hô hấp nhân tạo dùng trong máy thở-Nguyễn Công Trình
Lĩnh vực : biomedical
2. Thông khí nhân tạo điều khiển CMV (Controlled mandatory ventilation)
Còn gọi là IPPV (Intemlittent Positive Pressure Vention) là phương thức hô hấp nhân tạo cần được tiến hành ngay sau khi có chỉ định máy thở. Đó là phương thức thông dụng nhất và đáp ứng được những trường hợp bệnh nhân đang trong cơn nguy kịch. Sau đó mới tính toán đến việc sử dụng các phương thức khác thích hợp hơn.
Phương thức thông khí nhân tạo điều khiển là bắt buộc người bệnh thở theo máy. Máy sẽ đẩy những áp lực không đổi, đều đặn vào cho bệnh nhân với tần số, lưu lượng đã được đặt từ trước.
3. Thông khí nhân tạo với áp lực dương ngắt quãng IPPB (Intermittent Positive Pressure Breathing)
Hô hấp áp lực với áp lực dương ngắt quãng (Intermittent Positive Pressure Breathing – IPPB) khi sử dụng dài ngày còn được gọi là thông khí nhân tạo với áp lực dương ngắt quãng viết tắt là IPPV (Intemlittent Positive Pressure Ventilation – Pression Positive Intermittent) được thực hiện với một máy hô hấp nhân tạo trên bệnh nhân đã được đặt ống nội khí quản hoặc mở nội khí quản (đôi khi qua mặt nạ)
Máy đẩy vào phổi bệnh nhân một thể tích khí với một tần số nhất định, một áp lực đẩy vào luôn luôn dương tính, còn thì thở ra thụ động, áp lực đường dẫn khí lúc này trở về số 0.

Phương thức hô hấp này sử dụng nhiều nhất trong hồi sức cấp cứu. Do có nhiều khả năng khác nhau về điều chỉnh thông số, phương thức này có thể đảm bảo một sự thông khí đúng đắn trong đa số các trường hợp.
4. Thông khí nhân tạo với áp lực dương liên tục CPPV (Continuous Positive Pressure Ventilation)
Phương thức hô hấp nhân tạo với áp lực dương liên tục là phương thức hô hấp trong đó áp lực thì thở vào và cả thì thở ra đều dương tính nhờ 1 van cản thở ra gọi là PEEP (Positive End Expiratory Pressure). Phương pháp này gọi là CPPV, bao gồm phương thức IPPV kết hợp PEEP.
Vai trò của PEEP :
Ở một số bệnh nhân suy hô hấp cấp, oxy giảm nặng khó có thể chữa được bằng IPPV đơn thuần mặc dù tăng FIO2 lên quá 0,60. Việc dùng PEEP sẽ đạt được mục đích này bằng cách hồi phục lại trên bệnh nhân một thể tích cặn chức năng FRC bình thường nhưng không gây ra tràn khí màng phổi, ít ảnh hưởng đến huyết động và không ảnh hưởng đến thông khí phế nang.
PEEP dùng phối hợp cho hô hấp nhân tạo, nhưng có thể phối hợp với cả hô hấp tự nhiên hoặc thông khí hỗn hợp PEEP với thông khí bắt buộc ngắt quãng IMV.

Tác dụng của PEEP :
+ Về mặt thể tích :
Tác dụng chủ yếu của PEEP là làm tăng sự trao đổi khí ở phổi : PEEP làm tăng thể tích phổi bằng sự tăng FRC. Falke nhận thấy rằng mỗi cm H2O PEEP sẽ làm tăng CRF (theo Falke, tăng 13mmHgPaO2 cho mỗi cm H2O PEEP).
+ Về mặt áp lực :

Sự tăng áp lực trong lồng ngực bởi PEEP lại có ảnh hưởng không tốt tới tuần hoàn. Tăng áp lực trong lồng ngực làm giảm các áp lực chứa trong buồng tim vì làm giảm tuần hoàn trở về. Có thể đo áp lực trong lồng ngực bằng áp lực màng phổi hay bằng áp lực trong thực quản. Áp lực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của áp lực phế nang và thấp hơn áp lực phế nang. Song với phổi có độ dãn nở giảm như trong ARDS (hội chứng suy hô hấp cấp ở người lớn), sự tăng áp lực trong lồng ngực rất nhỏ so với tăng áp lực phế nang. Với PEEP bằng 5 – 20 cmH2O theo Kuman và Herman, áp lực lồng ngực chỉ bằng 20% áp lực phế nang và ảnh hưởng rất ít tới cung lượng tim.
Áp lực phế nang quá cao, trên 20cmH2O sẽ chèn ép các mạch phổi gây gián đoạn tuần hoàn phổi ở những vùng có tỷ lệ VA/Q (thông khí/tới máu) cao và ảnh hưởng tới áp lực chứa của buồng tim trái.
Thông khí bắt buộc ngắt quãng đồng thì SIMV (Synchronous Intermittent Mandatory Ventilation)

SIMV còn gọi là SDV (Synchronous demand ventilation). Các nhịp thở của SIMV được thiết lập theo từng quãng thời gian định sẵn (chia phút ra 8 hay 6 lần chẳng hạn) nhưng chỉ bắt đầu thì thở vào như một hô hấp hỗ trợ nghĩa là khi bệnh nhân có một lỗ lực thở vào sau mỗi quãng thời gian. Giữa các khoảng thời gian hỗ trợ đã định, các tín hiệu hít vào không được máy ghi nhận và bệnh nhân tiếp tục thở tự nhiên.
Đa số máy SIMV có thêm bộ phận thiết lập một nhịp thở bắt buộc nếu bệnh nhân chậm khởi động một nhịp thở tự nhiên đúng thời điểm phải có SIMV. Nhịp thở của máy lúc đó là IMV. Giống như IMV, SIMV giúp cho việc cai thở máy vì bệnh nhân được thở tự nhiên trong phần lớn đoạn thời gian thực hiện thể tích/phút. Tần số thở SIMV sẽ được giảm dần để chuyển thành thở tự nhiên.
++facebook của tôi :
+++blog :
++ pinterest của tôi :
+++kênh học tập :
++ instagram của tôi :
+++ Tumblr :
++ reddit :
+++ google+ :
Hãy sub(đăng ký ) kênh để ủng hộ tác giả nhé !

source: https://nasibbitar.net

Xem thêm các bài viết về Sức Khỏe: https://nasibbitar.net/category/suc-khoe/

Join The Discussion